Chế phẩm sinh học BIMA (Trichoderma)

Chế phẩm sinh học BIMA (Trichoderma)

Chế phẩm sinh học BIMA (Trichoderma)

  • Thông tin sản phẩm Chế phẩm sinh học BIMA (Trichoderma) có chứa vi nấm Trichoderma là loại nấm đối kháng có tác dụng cao trong việc thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ và có nhiều tác dụng, được ...

  • 75.000 VNĐ

Xu hướng tìm kiếm: Chế phẩm sinh học BIMA (Trichoderma)

Thông tin sản phẩm

Chế phẩm sinh học BIMA (Trichoderma) có chứa vi nấm Trichoderma là loại nấm đối kháng có tác dụng cao trong việc thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ và có nhiều tác dụng, được dùng cho các loại cây trồng
–          Chống được các loại nấm bệnh cây trồng gây bệnh thối rễ, chết yểu, xì mủ,… do các nấm bệnh gây nên (Rhizoctonia solaniFusarium solaniPhytophtoraSclerotium rolfsii, …)
–          Tạo điều kiện tốt cho vi sinh vật cố định đạm sống trong đất phát triển
–          Sinh tổng hợp các enzyme cellulase, chitinase, protease, pectinase, amlylase nên có khả năng phân giải tốt các chất xơ, chitin, lignin, pectin trong phế thải hữu cơ thành các đơn chất dinh dưỡng, tạo điều kiện cho cây hấp thu được dễ dàng
–          Kết hợp với phân hữu cơ có tác dụng cải tạo đất xốp hơn, chất mùn nhiều hơn, đất trồng có độ phì cao hơn.
–          Hạn chế việc sử dụng các phân bón hoá học và thuốc trừ sâu hoá học độc hại.
–          Có thể sử dụng kết hợp với một số chế phẩm vi sinh khác như biolactyl, subtyl, … để sản xuất chế phẩm Microfost phân hủy phân hầm cầu, và xử lý đáy ao hồ nuôi tôm cá, khử mùi hôi ở bãi phân, chuồng trại, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường; phối trộn để sản xuất phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ sinh học, tăng cường khả năng chống nấm bệnh gây hại hệ thống rễ cây trồng và cải tạo đất.
BIMA
Đặc tính Chế phẩm sinh học BIMA (Trichoderma):
1. Thành phần:
* Các chủng nấm Trichoderma: 5×106 bào tử/gam
* Hữu cơ: 50%; Độ ẩm < 30%.
2. Công dụng:
–          Chứa nấm đối kháng Trichoderma có khả năng tiêu diệt và khống chế ngăn ngừa các loại nấm bệnh hại cây trồng gây bệnh xì mủ, vàng lá thối rễ, chết yểu, héo rũ như: Rhizoctonia solani, Fusarium, Pythium, Phytophthora sp., Sclerotium rolfsii,…
–          Tạo điều kiện tốt cho vi sinh vật cố định đạm phát triển sống trong đất trồng. Kích thích sự tăng trưởng và phục hồi bộ rễ cây trồng.
–          Phân giải tốt các chất xơ, chitin, lignin, pectin … trong phế thải hữu cơ thành các đơn chất dinh dưỡng, giúp cho cây hấp thu được dễ dàng.
–          Kết hợp với phân hữu cơ có tác dụng cải tạo đất xốp hơn, chất mùn nhiều hơn, tăng mật độ côn trùng có ích và giữ được độ phì của đất.
3. Hướng dẫn sử dụng
 
    3.1- Bón trực tiếp cho cây trồng
Cây trồng
Liều lượng
Cách bón
Bầu ươm cây con 1 – 2 kg/1m3giá thể ươm cây -Trộn đều với giá thể ươm trước khi vô bầu
Cây rau màu
(Cà chua, dưa leo, dưa hấu, khổ qua ớt, rau cải các lọai…)
3 – 6 kg/1000 m2
-Trộn với phân hữu cơ để bón đất trước khi trồng.
-Bón thúc bổ sung 1 – 2 lần/1 vụ
Cây công nghiệp ( cà phê, tiêuđiều)
Cây ăn trái (Sầu riêng, cam, quýt, bưởi, xoài…)
4 – 8 kg/1000 m2
-Trộn với phân hữu cơ bón 1 – 2 lần/ năm
– Bón trực tiếp vào xung quanh gốc cây.
* Có thể dùng để tưới: hoà 1 kg Chế phẩm sinh học BIMA (Trichderma) với 30 lít nước.
 
      3.2. Quy trình ủ phân chuồng, xác bã thực vật
–          Cứ 3–4 kg chế phẩm BIMA; 20 – 30 kg super lân trộn đều với 1 tấn phân chuồng, xác bã thực vật.
–          Phun dung dịch urê (1 kg urê/100 lít nước ) vào đống ủ cho ướt đều, độ ẩm đạt 50–55% (dùng tay vắt chặt hỗn hợp trộn, thấy nước rịn ra là được)
–          Đảo trộn và đậy bạt, sau 4–5 ngày, nhiệt độ sẽ lên khoảng 60oC. Tiến hành đảo trộn. Nếu thấy khô, phun nước vào để tạo độ ẩm.
–          Sau 25 – 30 ngày, đảo lại 1 lần, phun nước để đảm bảo độ ẩm 50–55%. Nếu phân chưa hoai, ủ tiếp đến 30 ngày sau thì phân hoai hoàn toàn, có thể đem sử dụng.

–          Sản phẩm phân hữu cơ thu được có thể trộn với phân NPK, urê, super lân, kali và các lọai tro trấu.

Contact: Greenfarm JSC.

– Office: 97 Le Quoc Hung St, 12 Ward, 4 Dist. HCMC 

– Tel: 0903.865035

– Email: greenfarmjsc.hcm@gmail.com – www.greenfarmjsc.com

Thông tin tham khảo

Tự làm phân hữu cơ sinh học bằng chế phẩm sinh học bima

Nhu cầu sử dụng phân hữu cơ cho trồng trọt rất lớn, để giảm chi phí, bà con nông dân có thể tận dụng chất thải làm phân. Đó là giải pháp tiết kiệm đáng kể tạo ra nguồn phân hữu cơ cung cấp cho đất, cải tạo đất hiệu quả. Tuy nhiên, nếu không nắm vững quy trình thì sẽ không có nguồn phân hữu cơ có chất lượng, mất thời gian. Theo hướng dẫn của KS. Võ Mầu (Trung tâm công nghệ sinh học nông nghiệp), khi sử dụng chất thải làm phân hữu cơ ta cần lưu ý:

Ủ phân theo phương pháp truyền thống

Nguyên liệu thô có thể tận dụng là rơm, cỏ úa, thân cây họ đậu… băm nhỏ, có thể bổ sung thêm phân chuồng như trâu, bò, heo, gà, vịt, dê… Để hạn chế thất thoát đạm, cần bổ sung thêm khoảng 2 – 3% phân super lân (không dùng lân nung chảy, vôi nông nghiệp hoặc tác nhân kiềm). Ẩm độ tối ưu đống ủ là 50%. Quá ẩm sẽ sũng nước, quá trình ủ chậm, bốc mùi hôi thối. Nếu quá khô thì quá trình phân hủy diễn ra chậm, hoặc không diễn ra. Để có nhiệt độ thích hợp, nên tạo đống phân ủ có kích thước khoảng 1,5 x 1,5 x 1,5 mét hoặc lớn hơn một chút. Nhiệt độ giữ tốt hơn khi đống phân được bao quanh bằng đất chất cao, đậy kín bằng bạt nylon chống mưa nắng.

Điểm ủ phải cao ráo (ủ chìm bằng hố rắc rối khi gặp mưa), dưới đáy đống phân ủ lót lớp rơm rạ hoặc cỏ khô khoảng 10 cm để giữ nhiệt. Nhiệt độ thích hợp là 50-60 độ C. Trên 70 độ C, vi sinh vật bị tê liệt, toàn bộ quá trình phân hủy làm lại từ đầu. Đống ủ phải đảo trộn nhiều lần (7 – 10 ngày/lần), tránh đống phân quá nóng, tạo thoáng khí bằng lỗ thoát khí. Nếu thực hiện đúng phương pháp, đống ủ có nhiệt độ cao trong vòng 48 – 60 giờ.

Nếu không đạt như vậy, có thể do nguyên liệu quá ướt, quá khô hoặc không đủ nguyên liệu xanh. Nếu quá ướt thì rải nguyên liệu ra cho khô, quá khô thì bổ sung thêm nước. Nếu đống phân ủ đạt yêu cầu ẩm độ mà nhiệt độ không lên cao có thể khắc phục bằng cách cho thêm phân chuồng vào (khoảng 10 – 15%) hoặc sulfat amon (NH4)2SO4 pha loãng theo tỷ lệ 1/40 – 1/50. Có thể theo dõi quá trình phân hủy nhanh bằng mùi bốc ra dễ chịu, bằng sự phát triển của loài nấm trắng trên nguyên liệu đang phân hủy, màu sắc đống phân nâu sẫm, thể tích đống phân giảm xuống còn 3/4 hoặc 2/3. Khi đống nguyên liệu đã hoai thì nhiệt độ giảm xuống và trở về bình thường. Có thể dùng lưới mắt cáo có lỗ rộng khoảng 2,5 – 3 cm sàng nguyên liệu, những mẫu to sẽ ủ tiếp. Nếu có điều kiện, bổ sung thêm men Trichoderma, trộn 1 – 2 kg/m3 thì đống phân sẽ phân hủy nhanh hơn, hiệu quả tốt hơn.

Phương pháp ủ bổ sung vi sinh

Tác nhân làm phân hủy cellulose (sử dụng Trichoderma sp.) được trộn đều vào nguyên liệu là xác bã thực vật, rác thải, rơm rạ… để làm phân ủ. Có nhiều cách phối trộn hỗn hợp làm phân ủ:

– 3 phần rơm + 1 phần cỏ rác, lá xanh + 2 phần phân chuồng.

– 4 phần rơm + 2 phần phân chuồng (bò, trâu, gà…).

– 2 phần rơm hoặc cỏ khô + 2 phần xác cây họ đậu + 2 phần phân chuồng.

– 2 phần rơm + 3 phần cây xanh thuộc họ đậu (lá keo giậu, thân đậu xanh, đậu nành, cây cỏ hôi mọc bìa rừng…) + 2 phần phân chuồng.

Rơm rạ phải băm nhỏ, tưới nước cho ngấm ướt đều trước khi đem ủ, các loại xác bã thực vật phải băm nhỏ. Để ủ 1 m3 nguyên liệu theo các công thức trên cần bổ sung 5 kg super lân trộn đều, 1 kg men Trichoderma hòa với nước tưới đều vào đống ủ làm chất kích hoạt. Cách tiến hành ủ, kích thước khối ủ, nhiệt độ, ẩm độ… tương tự như cách ủ truyền thống nói ở phần trên.

Ngoài ra có thể ủ phân hữu cơ bằng men vi sinh Trichoderma với nguyên liệu là vỏ cà phê, mùn cưa thải ra từ làm nấm. Nguyên liệu chuẩn bị ủ gồm 300 kg phân chuồng (nhiều hơn càng tốt), xác bã thực vật (vỏ cà phê, mùn cưa thải từ làm nấm, cùi bắp, rơm rạ) 700 kg, men vi sinh Trichoderma 4 – 5 kg, super lân 20 – 30kg (để hạn chế mất đạm không dùng vôi CaCO3), sử dụng nguồn nước là nước sinh hoạt hoặc nước thải phân chuồng trại, có nhà che phủ bạt tránh mưa nắng. Nếu không có xác bã thực vật có thể sử dụng 100% phân chuồng.

Tiến hành ủ như sau: vỏ cà phê (xay nhỏ càng tốt), xác bã thực vật (cùi bắp, rơm rạ, cỏ khô…) bằm nhỏ cùng với mùn cưa thải, sau đó trộn đều cùng với men vi sinh, phân chuồng, super lân. Phun nước đều để có ẩm độ 50 – 55% (lấy tay nắm siết chặt thấy rịn nước là được), đánh đống cao 1,5 – 2m.

Sau khi ủ 15 ngày tiến hành đảo trộn tăng cường hoạt động của men vi sinh và để oxy vào kẽ hở đống phân, đồng thời để khí độc thoát ra trong quá trình ủ. Nếu thấy khô thì phun nước bổ sung cho có ẩm độ như ban đầu. Ủ khoảng 50 – 60 ngày, đống ủ sẽ hoai hoàn toàn trở thành phân hữu cơ vi sinh.

Phân hữu cơ sinh học tự ủ theo phương pháp trên có thể bón 3 – 4 tấn/ha, bón kết hợp phân vô cơ tăng hiệu quả phân bón. Cần phối trộn đều với phân vô cơ khoảng 24 giờ trước khi bón. Hỗn hợp này rất hiệu quả với cây trồng, đồng thời hạn chế thất thoát dinh dưỡng của phân hóa học.

 

 

PHƯƠNG DUY – Khoa học phổ thông, 26/12/2010

 

Bên cạnh việc ủ phân như hướng dẫn ở trên, để có phân chuồng không gây mùi hôi, trong quá trình chăn nuôi, nên trải lót đệm sinh học có men bio – bacilous, trộn chung men này trong cám, thức ăn, … phân chuồng thu hoach được, ủ sẽ nhanh hoai và chất lượng tốt hơn cho cây trồng, dễ hấp thu.

Gửi Bình luận

Lưu ý: không hỗ trợ HTML!
    Bình thường           Tốt